Đỉnh Đầu Ruồi

Giải Đặc Biệt II Giải Năm Át Mùi 2015 của Phong Trào Hiến Chương 20 (8.40 điểm):

Đỉnh Đầu Ruồi


Tường Lam

(Trích trong “Mã Thị Đỗ Quyên”)

Thời gian gần đây thôi, phủi tay, không còn bận nợ cơm áo, có thời gian nhưng biếng việc nhà. Gia đình không ai phiền trách cả, suốt một đời tôi khổ lụy quá nhiều. Chín năm lính bảy năm tù tôi đã tiêu phí quá oan uổng năm tháng tười đẹp nhất của người đàn ông. Tháng năm tù đày, đền bù lại cho gia đình bằng cách mọi người đường hoàng đáp máy bay, tiền vé tôi phải trả, định cư tại Hoa Kỳ.Một cử chỉ đẹp tôi đã trả nợ vợ con. Thời gian còn lại tôi dành trọn vẹn cho chuyện sáng tác, không còn kịp nữa rồi.Cả ngày ngồi trước bàn phím, múa bút trên từng trang giấy trắng hồn tôi phơi phới bay về những nẻo đường quê nhà, hồi tưởng lại những đêm trăng, “kìa thôn quê dưới ánh trăng vàng bát ngát”. Nhớ lại bao con đường đi qua phục kích, giành giật từng tất đất, bờ mương của chiến trường xưa, địa điểm hấp dẫn cho bất cứ người lính nào, thay ưu tiên cho danh làm thắng cảnh. Điều mơ ước này theo người lính lặng lẽ đến lúc nhắm mắt xui tay từ biệt cõi đời.

Con gái của nhà văn Thạch Lam, phu nhân của trung tướng Ngô Quang Trưởng, một biểu tượng người lính mà nhiều danh tướng thế giới khâm phục đã đem tro cốt của phu quân theo lới trăng trối, lên đỉnh đèo Hải Vân rải nhục thể cát bụi chồng mình phủ xuống lưng đèo, con đường mà danh tướng Quân Lực VNCH cùng ba quân xuôi ngược xe pháo không biết bao lần. Cảm động, nhà thơ Nhất Tuấn bồi hồi tự hỏi:
Lệnh sáng giữ, lệnh chiều bỏ Huế
Bao chiến công cũng thế mà thôi.
Hải vân tro rắc bốn trời
Hạt tro nào lạc vào nơi Cổ Thành?

Những ngày năm cùng tháng tận, trời đất vào Xuân, thắp nén nhang cho măm cơm cúng ông bà tôi không quên khấn mời bè bạn, chiến hữu và đồng bào tội nghiệp của tôi về đây chứng giám lòng thành:
Khói nhang nửa kiếp phong trần,
Câu kinh bát nhã ngại ngần truông mây.
Bạn bè ơi! Xuân đáo lai
Kẻ còn, người mất, sum vầy gượng vui.
Nghiêng ly rượu cúng bùi ngùi
Chút tình người sống, hiển linh mộ phần.
Hạ Lào xương trắng ba quân,
Bastogne! Bạch Mã! Núi xương Cổ Thành
Đức Cơ! Sông máu còn tanh,
Pleime, Long Khánh tên anh ai tường?
Nậm Kha, Đường 9, Mường Khương
Xác anh nằm đó ngăn đường Cộng Quân
Khăn sô! Trắng Huế! Mậu Thân,
Kinh Hoàng! Đại lộ, máu dân trắng đường.
Tháng tư trời sập tang thương,
Ôi! Cơn hồng thủy! Đoạn trường Việt Nam.
Núi xương, sông máu ai làm?
Trời ơi! Ai thấu? lầm than ai bày?
Gió Xuân mơn nhẹ cành mai,
Nến khuya! Dòng lệ châu mày khóc anh.
Biển trời mây nước còn xanh,
Máu xương còn nợ, dù anh không đòi.

Bài thơ tôi thuộc lòng vì thầm đọc nhiều lần. Rặng núi, ngọn đồi, giòng song, khe suối, góc ruộng, bờ mương… đâu đâu cũng thấm máu chiến hữu tôi, ai đếm và đo lường được sự mất mát của người lính?

Chặng đường liên tỉnh từ cầu Giống ké đến cầu Mây Tức, cách khoảng độ chừng năm cây số, có cái tên cũng là tên xã
Phú Tiên, cái tên thật đẹp muốn nói lên sự giàu có và đời sống như tiên.

Trước và sau tết Mậu Thân con đường này là con đường nhà xác. Khu vườn phía trong xa cách có đường Phú Tiên vài trăm thước là vùng tác xạ tự do mỗi lần đoàn xe di chuyển đi ngang. Giữ an ninh đêm ngày, về phần trách nhiệm của quận Càng Long, tỉnh Trà Vinh, hai trung đội đồn trú giữ cầu Mây Tức và đồn Đập Ấu, chuẩn úy Hồ Văn Ẩn, liên trung đội trưởng chỉ huy hai điểm yếu này, cách nhau một cây số.

Trong truyện “ Ngồi Lại Trên Cầu” tôi đã nói về yếu điểm cầu Mây Tức rồi, ở đây chỉ tả về ngày tháng chiến đấu giữ đồn Đập Ấu và con đường chết tiệt Phú Tiên này. Gà què ăn quẩn cối xay.

Hồi còn làm tư lệnh quân đoàn IV, thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu đáp trực thăng đứng trên con lộ này thị sát một trận đánh lớn trong đêm giữa tiểu đoàn 2/14 thuộc sư đoàn 9 bộ binh với một trung đoàn trừ bị cộng sản.

Cũng trong lô cốt, bên chiếc cầu Mây Tức nước đục ngầu này, sau tết Mậu Thân, mẹ tôi đến thăm một lần. Suốt đêm dù đường xa mệt mỏi mẹ tôi vẫn không chợp mắt được vì tiếng súng của người lính gác bắn xuống mấy giề lục bình hoa tím  ngắt vừa trôi vừa nở, thường mang theo đặc công, bè chất nổ để giật sập cầu.

Sau lần thăm đó về, mẹ tôi ngã bệnh nằm liệt giường. Mấy ngày trước khi lìa đời, về thăm, nắm tay tôi rã rời, đôi môi run run:- Má lo quá! Ở nhà nghe tiếng súng ở đâu má cứ nghĩ rằng con ở đó.

Chiến tranh súng đạn vô tình thường giết chết người lính trận, đồng thời nó cũng bắn tan nát triệu triệu trái tim người mẹ Việt Nam tội tình.

Trở lại đồn Đập Ấu, quân số một trung đội đủ cấp số đồn trú.
Tùy theo tình hình địch, tối trời hay sáng trăng tôi linh động thay đổi vị trí chỉ huy.

Tối trời tôi lên nằm ở đồn Đâp Ấu, đồn nằm gần một cái đập lớn trồng thật nhiều ấu, lá xanh tròn bằng cái dĩa phủ kín mặt đập. Ngoài việc tu sửa giao thông hào, lô cốt đấp đất che đầu dầy, chắc chắn. Gài mìn claymore tự động, lựu đạn cắt bớt ngòi nổ gài trên năm lớp rào kẻm gai, chen concertina, treo lủng lẳng trái sáng.
Mái đồn lợp lá bằng lá chàm, tôi ngại nhất địch tấn công bằng đạn lửa, địch xung phong mà đồn bốc cháy, lô cốt truyền tin nằm trong đống lửa mà còn đánh đấm gì nữa.

Tôi liên lạc với đơn vị bạn, Công binh làm đường, xin được chục phuy không dầu hắc phế thải, sắp thành hai hàng so le cạnh mé lộ trước đồn, bốn thùng phuy nằm cạnh ba lô cốt và nằm cạnh truyền tin. Hai chục phuy nước luôn đầy, lóng phèn trong vắt, nguồn nước dành cho cả trung đội và vợ con.

Thường vụ kiểm soát mấy chú lính ba gai vắng mặt bất hợp pháp “dù” đi thăm nhà, bắt trình diện đứng nghiêm quân phục chỉnh tề, sau khi nghe tôi lên lớp về quân kỷ, quân phong, em ba gai nào cũng có vẻ khổ sở lắm.

Hình phạt cho mấy chú lính ba gai là châm đầy mấy phuy nước, long phèn dưới sự giám sát của thượng sĩ trung đội phó kiêm thường vụ. Hôm nào thấy mấy thùng phuy đầy nước, hình phạt đổi khác. Chú lính thọ phạt đi cách xa đồn một trăm thước, hai bàn tay bụm lại làm loa:
– Tôi hứa không “dù” nữa
Thấy tôi lắc đầu, ông thượng sĩ trả lời:
– Ổng nói ổng chưa nghe, la lớn lên!
Điệp khúc “hứa” và phản hồi “chưa nghe” khoảng từ 30 đến 40 lần, tiếng chú lính kháp kháp như vịt trống cồ. chấm dứt hình phạt, tôi gật đầu và ông thượng sĩ ra lệnh:
– Ổng nghe rồi vô trình diện đi!
Gương mặt đừ ra, gã ba gai trình diện:
– Binh I Trần Văn Nản, số quân… thi hành lệnh phạt xong, trình diện chuẩn úy chờ lệnh.
Tôi vẫy tay, nạn nhân chào tôi, xoay người bước đi, có vẽ hận đời đen bạc lắm.

Hình phạt trên là do trung úy đại đôi trưởng đại đội 16 khóa
22 Thủ Đức, Trần Ngọc Đỉnh. Người thọ phạt SVSQ Hồ Văn
Ẩn với tội ban đêm băng vọng gác, ra xa lộ đón xe về Saigon cùng mấy người bạn “bal famille” gần sáng mới trở lại quân trường, gặp sĩ quan trực đại đội ngồi sẵn ở vọng gác chờ tôi.

Tuần sau đi phép gặp lại cô bạn nhảy mệt nghỉ, đêm “dù” tuần trước. Tôi nói không nghe một tiếng, cô bạn chỉ nghe âm thanh kháp kháp như vịt cồ. Trong rạp ciné tôi sử dụng “ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay”. Cô bạn không phản đối, còn tỏ ra thương cảm vì nhớ em mới ra nông nổi này.
Một tuần sau tôi có tiếng, nhưng gặp cô bạn tôi vẫn còn đau
cả tháng, tỏ tình bằng tay đôi khi còn phê hơn cả bằng lời, đôi lần “anh đi qua vùng cỏ non” mà không gặp một phản đối nào.

Binh pháp dạy rằng, cách phòng thủ tốt nhất là tấn công.

Đêm, tôi thường bung ra làm mấy điểm tiền đồn cách đồn về hướng bắc năm trăm thước, địa điểm Việt Cộng thường lùa dân đắp mô, hình dáng giống như khoai, ngụy theo truyền tin gọi là mả cụ Hồ, ngăn xe cộ lưu thông. VC tinh ma gài thêm mìn và lựu đạn để gây sát thương cho lực lượng đồn Đập Ấu bò lên phá mô.

Truyền tin báo về chi khu, trăm lần như một, thiếu tá chỉ huy trưởng ra lệnh trực tiếp cho tôi ở đầu máy PCR 25, bằng mọi giá phải bang mô thông lộ trình vì xe cộ dồn đùn cục trước chi khu.

Chuyện đắp mô xảy ra như cơm bữa nhưng tôi không bao giờ xem thường. Một trò chơi cân não chết người.

Có bữa trời chưa tỏ mặt, tôi cho trung đội xuất phát, đội hình thật thưa tiến sát, mục tiêu là gò đất lù lù chắn ngang mặt lộ. Máy rà mìn, cù mốc kéo dọc theo mé ruộng, cào xem  có dây điện để kích hỏa mìn chôn đâu đó. Từ xa độ mười thước quăng cù mốc giống như đôi neo ghe kéo lớp cây, chà, tàu dừa phủ đắp trên mô, thường lựu đạn gài nổ tung, không cẩn trọng chúng tôi bị sát thương ngay.

Cuộc chiến qua rồi, tài liệu mật được giải mã, năm 1969 cứ 10 trái pháo gọi bắn thì có 5 trái lép, Mỹ nhờ quân đội VNCH mang mìn cung cấp cho mặt trận giải phóng miền Nam, thế trận gậy ông đập lưng ông. Tôi:

Không giận đạn thù đối mặt
Hận ngàn đời vết đạn bắn sau lưng.

Lại một buổi sáng, mọi người dân thị thành yên ấm bên ly cà phê bốc khói thơm lừng. Người lính giữ đồn, an ninh diện địa, lom khom súng cầm tay, lội ruộng, cặp hai bên lộ mở đường. Việt Cộng phục kích, chúng tôi quần nhau, súng nổ, máu loang trên cánh đồng ngập nước hòa với máu đỏ thắm, trò chơi một ngày cho nhiều ngày.

Có lần chúng tôi bò lần đến “Mả Hồ Chí Minh: nằm lù lù vắt ngang qua đường liên tỉnh xã Phú Tiên. Quan sát thật kỷ, qua ống dòm tôi thấy có người nằm cạnh mô, thỉnh thoảng tay huơ huơ đập muỗi. Tôi ra lệnh, tất cả không được nổ súng. Đến gần, nhìn rõ mặt một người mặc quần đùi áo bà bà cổ quấn cái khăn bằng bao cát, bác Hai Xị, chết tên theo tửu lượng của ông, một nông dân có cái chòi giữa ruộng, cách mô hai trăm thước. Tôi la lớn:
– Bác Hai làm gì ở đây?
Người đàn ông ngồi dậy, lần lấy ra trong túi áo bịch thuốc rê, ngáp một cái thật dài:
– Đầu hôm mấy thằng du kích tối trời, bắt tao và lùa bà con trong xóm ra đây đào đường đắp mô, sáng tụi bây trong đồn ra mở đường bắt tao phá mô. Ông nội bắt đắp, ông ngoại lên bắt bang, làm dân tụi tao một cổ hai tròng khổ thấy mẹ! Đắp xong tao nằm đây luôn làm được một giấc, lát nữa bang mô xong đứa nào “hưởn” ghé tao lai rai, hôm qua cắm câu được mấy con cá trê vàng mập ú còn rọng ở nhà.

Mô phá xong, gọi máy báo cáo về trung tâm hành quân chi khu, mười lăm phút sau một đoàn xe đủ loại: xe đò, xe hàng, xe lam, Honda…. nhả khói chạy qua với nhiều cánh tay vẫy vẫy chào trung đội. Thầy trò tôi cười vui vẫy tay chào đáp lễ trong khi áo quần ướt mem đầy xình và “bougie” đứa nào cũng teo ngắt.

Một tiểu đội nằm lại giữ đường, chúng tôi theo bác Hai Xị về nhà! Gọi là nhà cho oai chứ thật ra chỉ là cái chòi với mấy chục tấm lá chằm che mưa nắng cho cái hầm đấp đất, làm hầm để chống đở, che chắn súng đạn vô tình của Quốc Gia lẫn cộng sản, nhưng dân tộc nhược tiểu này không làm sao chống lại được những toan tính gian manh, khốn nạn mà các thế lực đang tròng vào cổ mình, vì quyền lợi cường quốc của họ.

Tên thật của bác Hai chúng tôi không rõ, bác đội bom đạn ở cánh đồng này lâu lắm rồi. Bác Hai gái đạp lôi gài chết đã mấy năm, mộ nằm sát cạnh đằng sau chòi. Hai Xị là tửu lượng của Bác, bữa nhậu nào vô không đủ hai xị, bác thường cằn nhằn:
– Uống rượu như uống nước đái thằn lằn.

Đưa tiền nhờ mấy chú lính vô xóm mua rượu, năm con cá trê vàng, cặp gắp nướng trên than miểng gáo mỡ cháy xèo xèo, dưa leo, mấy cây cải bẹ xanh non mới nhổ, chén nước mắm tỏi ớt. Chúng tôi và bác Hai Xị bữa nay “quắc cần câu”, xế chiều trở về đồn… một ngày như mọi ngày.

Lóng rày, Việt Cộng đắp mô, mỗi ngày tôi cho lệnh một tiểu đội thay phiên nhau ở lại đồn ăn ngủ dưỡng quân, đêm xuống đi ăn sương, đột kích quân số đám du kích tổn thất dần.

Món đắp mô ngăn đường không khá Việt Cộng xoay sang trò mới, lập trạm chận xe đò, chận đoàn người đi bộ khám xét bắt quân nhân, cán bộ đi phép lẻ tẻ, tịch thu thuốc lá, cà phê rượu không cho tiếp tế cho ngụy quân, ngụy quyền, một loại lục lâm thảo khấu ăn cướp dân chúng.

Mùa khô, nhất là những tháng giáp Tết, gió đông về cánh đồng trơ gốc rạ khó mà phục kích. Ẩn mình trong lúa, độn thổ tấn công lực lượng an ninh lộ trình của đồn Đập Ấu, chúng tập hợp lực lượng trong chân vườn cách lộ xe vài trăm thước, cho một vài du kích ra lộ chận xe, bắt người và ăn cướp.

Tôi dẫn lính đi nửa khuya đột kích mấy lần, đỡ đi mấy tuần rồi đâu lại vào đấy.

Trách nhiệm giữ cầu Mây Tức, đồn Đập Ấu thay đổi vị trí tùy theo tình hình địch và mùa trăng, trời sáng tối. Mất ngủ đôi mắt thâm quầng, soi gương tôi thầm nhủ:

– Người ta “Loan mắt nhung” (cuốn phim đang ăn khách ở Saigon), còn mình là “Loan mắt nhậm”.

Tình hình trong đêm vô sự, tôi ngủ muộn tới mười giờ sáng mới thức dậy.
Sau Tết Mậu Thân thất bại, Việt Cộng trở lại con đường phá hoại, ngăn sông cấm chợ gây khó khăn cho chánh quyền và dân chúng trong vùng quốc gia kiểm soát. Gà vịt và trứng không chở xuống Trà Vinh và Vĩnh Long bán nên rẻ như cho. Trong lô cốt tôi ngủ lúc nào cũng có sẵn mấy chục hột gà, bánh mì, đường, cà phê… gửi bạn hàng buôn chuyến Vĩnh Long mua về.

Bánh mì nướng lửa than giòn rụm, cà phê phin, hột gà ốp la điểm tâm của người lính ở đồn thật phong lưu. Quân phong đi chỗ khác chơi, quần đùi áo thun thoải mái. Tôi mang cây Garant M2 bá đỏ au, điều chỉnh biểu xích chính xác, nạp đạn có sơn đầu đỏ, đạn lửa, vào ngồi trên thùng cây làm ghế, tựa súng lên thành lô cốt phủ bao cát, ngồi chờ bắn người chơi.

Việt Cộng làm trạm trong mí vườn, cho du kích ra lộ chận xe, nếu đường bị đào đứt, chận người đi bộ từng đoàn lên xuống.

Tôi nheo mắt trái, tì má vào báng súng, mắt phải đặt sau lỗ chiếu môn đến giữa đỉnh đầu ruồi. Thằng du kích đi trên bờ đê tay huơ huơ làm dấu chận người. Tôi nhè nhẹ rà súng theo, mục tiêu di động còn cách đoàn người đứng lại độ năm chục thước, tôi siết cò súng, súng nổ đạn đạo lửa hít sát vào mục tiêu, bờ đất bay bụi, đoàn người hoảng sợ chạy toán loạn, có người vấp té bổ nhào, bò càng xuống ruộng.

Một năm trước còn thụ huấn quân trường trên đồi Tăng Nhơn Phú, môn tác xạ bốn thế nằm, đứng, di chuyển và quỳ; mục tiêu bằng giấy bồi, hình Việt Cộng đội nón cối, gương mặt y chang như thủ tướng VC Phạm Văn Đồng vẩu môi như hai miếng thịt trâu, bây giờ mục tiêu là thằng du kích Việt Cộng, tôi bình thản ngắm người mà bắn.

Hôm nào lực lượng đồn trú bận hành quân, du kích chận bắt người. Vô phước cho quân nhân bị chúng bắt dẫn đi, lao động khổ sai, đêm bị còng tay, chân bị xích vào cây sắt từng chùm, không có ngày về. May mắn có hành quân trực thăng vận nhảy diều hâu thì đoàn tù được giải cứu. Nếu biết trước có hành quân về phía trại tù, Việt Cộng cột tù nhân thành chùm bơi xuồng ra giữa sông nhận chìm, hoặc đập đầu tù binh bằng búa đạp xuống hố chôn tập thể trước khi chém vè: đạo đức cách mạng.

May mắn cho bạn tôi hiện cư ngụ tại Over Land Park tiểu bang Kansas, đại úy Nguyễn Viết Quý, hết phép từ Saigon ngồi xe đò về trình diện bộ chỉ huy trung đoàn 14, sư đoàn 9 bộ binh đóng ở Vĩnh Bình, toán người bị du kích chận dẫn vô bìa vườn. Trung đội Đập Ấu nửa đêm đột kích nằm chờ, đồng loạt nổ súng, Việt Cộng bỏ chạy, đoàn người được giải thoát. Gặp nhau ở Mỹ, đại úy Nguyễn Viết Quý cho tôi biết hôm đó mặc thường phục nhưng trong vali có bộ đồ trận ủi hồ và đôi bốt đờ sô bóng láng.

Thời gian đó đại đội tôi tùng thiết với chi đoàn 2 Thiết Giáp, bên kia sông tiểu đoàn 2, trung đoàn 14, vùng hành quân Vàm Cái Bát, xã Mỹ Đức, giáp ranh quận Vũng Liêm, Càng Long.
Đơn vị tôi lục soát vào “đám lá tối trời”, mùi hôi thối nồng nặc xông lên muốn nôn mửa. Đơn vị khám phá một hố chôn nhiều xác người mà chồn, chuột đang moi lên ăn, địa điểm gần trại giam Quận, trận liệt cho biết trưởng trại Hai Huấn, một tay công an sắt máu giết người không gớm tay.

Sau 30/4/1975 trại giam nới rộng ra gấp trăm lần nhốt ngụy quân, ngụy quyền. Một xâu mười người, hai chân vào còng xỏ ngang một thanh sắt khóa ở đầu, mắc tiểu đi vào thùng nước mắm tô hô trước mặt bạn tù, trời sáng mới được mở còng một lần 15 phút đi làm vệ sinh.

Ba năm sau, số tù được thả, số còn lại cộng sản qui chụp vào thành phần ác ôn có nhiều nợ máu với cách mạng, đày đi xa, có người ra tới miền thượng du Bắc Việt. Một số chết, một số mười mấy năm sau mới được thả về.

Nhà tù bây giờ chẳng bỏ không, bắt vượt biên, còn ôm chân đế quốc để ăn bơ thừa, sữa cặn.

Nhà tù cũng chật nức, ban quản giáo áp dụng thú tính với phụ nữ, thường gọi nữ tù nhân lên làm việc ban đêm. Phải ủng hộ một đêm với cán bộ trại, ngày mai được thả vì có danh sách được thả đã gửi xuống mấy ngày trước. Văn phòng làm việc trại giam có một khẩu hiệu lớn, bảng vàng chử đỏ: “ Sống và làm việc theo lời bác Hồ dạy”!

Đi tù về, tôi chứng kiến: vợ Hai Huấn chìm đò chết, con trai Hai Huấn bị xe Honda đụng chết. Hai Huấn lên Vĩnh Long họp, tối vào quán cà phê, bị tắt đèn bề hội đồng nằm sãi tay dưới nền quán.

Hai Huấn vướng bệnh ung thư, vào bệnh viện đau đớn giãy giụa, y tá cột tay chân Hai Huấn vào thành giường xạ trị, tóc rụng mẹ hết. Nửa khuya Hai Huấn la lớn:
– Chích thuốc cho tôi chết đi, cột trói vầy làm sao tôi chịu nổi!
Xin anh Hai cố gắng trả nợ: chức vụ trưởng trại giam, anh đã còng trói, thủ tiêu, tra tấn, hiếp dâm bao nhiêu người tù, có gì đâu ân hận anh Hai ơi! Bác Hồ cũng làm như anh Hai vậy thôi, đồng chí cộng sản mà, lương tri loài người đấy!

Trở về con lộ Phú Tiên, trên cánh đồng Đập Ấu, tôi đang ngồi trong lô cốt bình tĩnh kéo cơ bẩm khẩu Garant M2. Trò chơi chiến tranh, một thanh niên trên 20 tuổi, chưa từng cắt cổ gà đề làm mồi nhậu mà giờ đây qua đỉnh đầu ruồi vô tư nhắm người mà bắn.

Năm 1952 khi còn là cậu bé lí lắc, giành sân đá banh đã phạch cu đái ướt quần mấy bạn gái cùng lớp không cho tiếp tục nhảy cò.

Cuối tuần, cùng nhiều thằng bạn trong xóm ra đình An Hội xem hát bóng thí.
Một đoạn phim màu 35 ly, chiếu một cảnh một nhóm tù Việt Minh lếch thếch được dẫn ra từ chiếc xe bít bùng. Đại tá Le Roy tỉnh trưởng Bến Tre, áo rằn ri, bê rê đỏ nhảy dù, khoát tay ra hiệu cho nhóm tù chạy đi, cây tiểu liên Thompson rung lên trên trên tay đại tá hai dòng máu Pháp Việt, đoàn tù không ai chạy thoát , té sấp xuống bờ ruộng lúa chín vàng ấp Trường Đậu, xã Phú Khương đang vào mùa gặt.

Những thước phim máu bạo tàn đó đã in sâu vào lòng cậu bé con mãi tới ngày hôm nay.

Tết Mậu Thân thiếu tướng Loan đã đưa nòng rouleau vào đầu tên đặc công cộng sản Bảy Lốp, xử tử tên Việt Cộng để trả thù cho lính của ông và gia đình bị tên này hạ sát.

Một đời thương tật, ông đã khổ sở vì dư luận do đám truyền thông Mỹ vô lương tâm. Mãi đến khi qua đời ông mới được mọi người thương cảm và ngưỡng mộ. Cũng những ngày cuối năm sau cái tết Mậu Thân máu lửa, trên trục lộ Phú Tiên chết tiệt này, đoàn người khá đông, rộn ràng áo hoa đủ màu từ hướng Giống Ké đổ về. Từ xa trong bờ vườn, một bóng người mặc bà ba đen, quần cụt, đi nhanh khoát tay bắt mọi người dừng lại. Tôi tì bá súng vào bả vai, nheo mắt cho đường đạn thật đúng, bóp cò, viên đạn lửa xe gió, tên Việt Cộng té xấp xuống, lòm còm bò dậy, lom khom chạy thụt mạng về phía chân vườn, tôi bồi thêm mấy phát nữa rồi bình tỉnh hạ súng xuống.

Đoàn người thất thểu đi chân không, giày dép cầm tay, áo quần chân cẳng tèm lem bùn đất, như đi cấy, họ bò xuống ruộng, khi tôi bắn.

Họ dừng lại trước cửa đồn, một người đàn ông bước đến từ tốn:
– Cám ơn chú lính, nếu không nhờ ông bắn tụi tui bị Việt Cộng bắt rồi!

Tôi mĩm cười, ra lệnh lính vào đồn lấy ra them mấy cái mũ sắt:
– Xin cô bác rửa mình cho sạch bùn đất

Mọi người vui vẻ múc nước lóng phèn trong vắt rửa mình mẩy mặt mày.

Đoàn người rối rít cám ơn từ giã, cô quần Jean áo thun bó sát người, tay che dù hồng tiến đến trước mặt tôi:
– Cảm ơn ông lính thật nhiều, hồi nảy ông bắn tôi sợ điếng người, bò càng xuống ruộng sợ đạn trúng mình.
Tôi cười:
– Đạn trúng cô tôi không ngại, chỉ sợ trúng cây dù rách, tôi không có tiền đền, lính nghèo lắm cô ơi!

Cô ta nguýt hứ một tiếng, chân bước còn ngoái nói vọng lại:
– Ông nội này nói chuyện nghe đã hôn.
Cô đi nhanh, đôi mông tròn đong đưa như đang nhảy cha cha cha.

Hơn một năm chịu an ninh trục lộ này, đơn vị mở đường bang mô, lấp lộ, phục kích, đột kích, quân số thương vong gần một tiểu đội. Phía bên kia hơn chục xác nằm lại trên đường, dưới ruộng. Tịch thu một mớ vũ khí cá nhân. Có hai khẩu K.54, mấy “sà cột” với nhiều tài liệu tuyệt mật.

Riêng, trưa ngồi trong lô cốt tôi bắn trọng thương nhiều du kích nghe nói có thương vong, bắt sống 3 tên, quốc gia chữa lành, bỏ vào tù nuôi cho mập chờ ngày trao trả.

Đại tá Le Roy bắn người (Việt Minh) bằng khẩu Thompson.
Thiếu tướng Loan bắn người (Cộng Sản) với khẩu rouleau.
Chuẩn Úy Ẩn bắn người (cộng sản) với khẩu garant M2.

Một triết gia đã nói:
Súng đạn tàn nhẫn nhưng không biết căm thù
Lòng căm thù tàn nhẫn gắp trăm lần súng đạn.

Tôi người lính già với nhiều nếp nhăn trên trán, chiến tranh giờ đây chỉ còn là kỷ niệm, trong đêm khuya tôi thường nghe lại bài hát của Phạm Đình Chương, một nhạc sĩ tài hoa:
Anh đi chiến dịch xa vời
Nòng súng nhân đạo cứu người lầm than.

Vũ khí tư bản hay cộng sản đều làm cho dân tộc tôi điêu đứng lầm than. Cả mấy triệu người Việt Nam nằm xuống vì cuộc chiến tranh tương tàn, đáng nguyền rủa này… Cầu mong thế hệ mai sau yêu thương nhau, đem tài năng uyên bác, trí thông minh xây dựng sơn hà. Nhìn nhau yêu thương trìu mến, đừng bao giờ ngắm nhau qua “Đỉnh Đầu Ruồi” như thế hệ cha anh đã hành xử sai lầm.
Mong lắm thay!

Tường Lam

Marc Samuels

Yen Green tea