Khi người dân Mỹ mê súng ống

  • Ở bậc trung học tại Việt Nam trước năm 1975, các học sinh thuộc bất cứ ban nào cũng đều phải học ít nhất là 1 giờ mỗi tuần hai môn Sử-Địa, tức là Sử Ký (để hiểu biết về nguồn gốc tổ tiên) và Địa Lý (để mở rộng kiến thức bên ngoài đất nước của một quốc gia nhược tiểu bị đô hộ lâu năm bởi các đế quốc từ Tầu tới Pháp). Đây là hai môn học tương đối không quan trọng cho thành tích học bạ của các học sinh vì chỉ có hệ số 1 khi tính điểm trung bình, nhưng thường là những môn học rất ích lợi cho kiến thức tổng quát sau này khi các em trưởng thành và bắt đầu xây dựng lý tưởng cho mình, nhất là môn Sử Ký. Về sau này, nhà cầm quyền Việt Cộng đã áp đặt những bài học đầy dối trá để bóp méo lịch sử và đề cao chiến thắng của họ nhưng thực chất chỉ là thành quả rất ma lanh và hiểm độc khi cướp công của toàn dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để giành độc lập.

    Tại Hoa Kỳ, các học sinh cũng được học môn Sử Ký (History), nhưng môn Địa Lý dường như không được đánh giá cao (phải chăng vì nước Mỹ là một cường quốc nên dân chúng Mỹ không thèm để ý đến các nước khác trên thế giới?). Thay vào đó là môn Chính Quyền (Government) để hiểu rõ hơn về cơ cấu công quyền, tương đối khá phức tạp do bởi 2 hệ thống liên bang và tiểu bang đã phối hợp và cùng song hành kể từ những ngày đầu lập quốc của các nhóm di dân rời bỏ quê nhà ở Anh Quốc để đi tìm sinh lộ tại vùng Tân Thế Giới. Trong một chừng mực nào đó, có lẽ sự ích lợi của môn học này cũng giống như môn Công Dân Giáo Dục thời Việt Nam Cộng Hoà trước đây.

    Ở bậc đại học, dù là theo học bất cứ ban ngành nào, tất cả sinh viên đều phải thi đậu qua ít nhất là 2 khoá cho mỗi môn Sử Ký và Chính Quyền trước khi có thể được cấp phát văn bằng tốt nghiệp. Theo truyền thống những gì mới học xong cũng thường trả lại cho thầy, sinh viên sau đó cũng mau chóng quên hết tất cả những gì đã học qua nếu như không có thì giờ ôn lại những điều đó sau này. Tuy nhiên, có lẽ một chi tiết đặc biệt và ngộ nghĩnh khi học về Sử Ký và Chính Quyền mà nhiều người vẫn còn nhớ tới là chuyện đấu súng ly kỳ giữa hai nhân vật cao cấp trong chính quyền vào những năm đầu tiên của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

    Đó là chuyện đấu súng để giải quyết xung đột “bất cộng đái thiên” giữa ông Alexander Hamilton, Tổng trưởng Tài chánh, và ông Aaron Burr, đương kim Phó Tổng thống dưới thời Tổng thống Thomas Jefferson, vị tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ và được xem như là một trong những chính trị gia nổi tiếng và đại tài của đất nước này. Các vị này đều được coi như là những vị khai quốc công thần cùng thời với vị tổng thống tiên khởi là George Washington. Riêng ông Hamilton được coi như là cha đẻ của hệ thống tiền tệ trung ương để làm nền tảng cho một chính quyền liên bang vững mạnh. Vì thế nên hình ảnh của ông được in nhiều nhất trên đa số các tờ giấy bạc trong lịch sử của Hoa Kỳ. Ngoài ra, ông cũng nổi tiếng với những bài tiểu luận, về sau nay được gom lại và gọi là The Federalist Papers, cho đến ngày nay vẫn được nhắc tới như là một trong những tài liệu quan trọng để cổ xuý và quảng bá cho Hiến Pháp Hoa Kỳ

    Hai ông Hamilton và Burr đã có nhiều đố kỵ với nhau từ lâu, và do đó đã quyết định giải quyết một lần cho xong những xung đột này theo cách thức phổ thông vào lúc ấy, đó là một cuộc thách đố bằng vũ lực. Dù các chính quyền địa phương lúc đó ngăn cấm chuyện dùng súng ống, nhưng họ cũng tìm cách dàn xếp một cuộc đọ súng tại thị trấn Weehawken, trên bờ của sông Hudson tại tiểu bang New Jersey vào ngày 11 tháng 7/1804.

    Sau màn kiểm tra vũ khí của đôi bên được thực hiện nghiêm nhặt, cả 2 đối thủ bắt đầu đi những bước lui bằng nhau trước khi quay lại và đồng loạt nổ súng. Cho đến nay, không ai biết chắc là người nào đã khai hoả trước tiên nhưng viên đạn của ông Burr trúng vào bụng của đối thủ còn viên đạn của ông Hamilton chỉ trúng cành cây khiến nó rớt ngay trên đầu của ông Burr. Về sau này, nhiều sử gia phân tích và cho rằng có lẽ ông Hamilton là người khai hoả trước tiên nhưng lại không bắn trúng đích, và ông Burr tuy là người nổ súng sau nhưng ông đã biết nhắm kỹ đúng mục tiêu. Dĩ nhiên, ông Hamilton bị thương nặng hơn vì viên đạn xoáy trong bụng và được dìu về nhà người bạn thân nhưng sau đó đã qua đời vào ngày hôm sau là 12/7/1804, chấm dứt khá đột ngột và oan uổng một cuộc đời và sự nghiệp nổi tiếng và quan trọng.

    Hơn 200 năm sau, lịch sử gần như được tái diễn dù rằng hai diễn viên trong tấn bi kịch này chỉ là hai ông già không nổi tiếng cũng như chẳng có sự nghiệp gì lừng lẫy. Họ chỉ là hai người làng xóm, không ưa thích nhau nhưng trời xanh oan nghiệt lại xui khiến họ sống sát vách nhau, phải chịu đựng một cảnh khổ tiêu biểu trong những cảnh khổ thường nghe giảng trong nhà Phật là “oán tăng hội” (không ưa nhau mà lại cùng gặp gỡ tại một nơi như oan gia ngõ hẹp). Đó là hai ông Charles Ingram và Robert Webster sống cạnh nhau tại tiểu bang Florida, nhưng thường luôn gây gỗ với nhau, theo lời của những người bạn của họ thuật lại. Cả hai ông đều là những người mê thích súng ống, và cũng đã chịu khó nộp đơn với chính quyền để được quyền đeo súng giấu trong người (concealed weapons).

    Trong một ngày đẹp trời vào mùa xuân năm 2010, hai ông già gân này bỗng dưng gây sự và cãi vã trước sân nhà. Lời qua tiếng lại càng gia tăng, cả hai ông bèn quyết định đi lấy súng để “nói chuyện phải quấy” cho chúng biết tay. Khi ông cụ Webster tiến đến gần thì ông già Ingram cũng nâng súng mình lên cùng lúc với đối phương. Cũng giống như tấn tuồng của 2 diễn viên Hamilton và Burr năm xưa, chỉ có 2 viên đạn được khạc ra cùng lúc từ các nòng súng, nhưng lần này cả hai ông cụ đều ngã sụm. Cụ ông Webster có lẽ trúng thương nặng hơn nên sau đó không lâu đã thiệt mạng. Cụ ông Ingram cũng không khá gì hơn, cầm cự với vết thương trong gần một tháng trời trước khi… về nước Chúa.

    Theo lời thuật lại của nhà báo Patrik Jonsson trong một bài viết trên tờ Christian Science Monitor vào tháng 2/2014, cuộc đấu súng giữa 2 ông hàng xóm Webster và Ingram kể trên chỉ là 1 trong số hơn 550 vụ nổ súng khác đã được thu thập bởi những người ủng hộ các chính sách kiểm soát nghiêm nhặt súng ống (gun control) để minh chứng cho một sự thật đau lòng: đó là sự hiện hữu của những khẩu súng (dù là rất hợp pháp) có thể biến những cuộc tranh cãi hay xích mích nhỏ nhặt, tầm thường trở thành những tai hoạ thảm khốc. Những thí dụ này được đưa ra nhằm để phản bác lại những lập luận của phía đối phương (gun rights, ủng hộ các chính sách dễ dãi về súng ống) khi nói rằng mỗi năm có hàng chục ngàn người Mỹ đã nhờ đến súng ống để tự vệ và để ngăn cản được những vụ phạm pháp đang hoặc sắp diễn ra.

    Trong một đất nước mà người dân đã chứng kiến những vụ bạo động chết người vì súng ống xảy ra thường xuyên như cơm bữa (hoặc nói theo kiểu ở trong nước sau này là chuyện “thường ngày ở huyện”), hai ông cụ Webster và Ingram có lẽ chỉ là những người bình thường trong một tập thể đang ngày càng lớn mạnh, một khối dân quân (militia) được ước tính khoảng từ 8 đến 11 triệu người được coi như là những công dân gương mẫu vì đang sở hữu những giấy phép của chính quyền cho phép họ được mang súng giấu trên người tại những nơi công cộng, với lý do là để bảo vệ cho sự an nguy của họ và những người khác.

    Cách đây khoảng hai thập niên, số người Mỹ mang súng giấu trên người có lẽ chưa tới một triệu người, và phần đông họ là những người đã thường xuyên gắn bó với súng ống như các cựu cảnh sát viên, cựu quân nhân hoặc là những chủ nhân các cơ sở thương mại thu góp và trao đổi tiền mặt. Thế nhưng giờ đây, con số đó đã gia tăng rất mạnh và rất nhanh, khi mà càng ngày càng có nhiều tiểu bang ban hành những đạo luật nới rộng quyền được mang súng giấu trên người kể cả tại những nơi công cộng như các quán nước, nhà thờ, phi trường và thậm chí cả sân trường đại học. Do đó, những bi kịch hay tai hoạ thảm khốc do súng ống gây ra như thí dụ kể trên cho thấy nỗi lo lắng giữa hai bờ sinh tử của người dân đang sống tại một nước Mỹ mà người dân ngày càng được trang bị thêm nhiều súng ống.

    Vấn đề càng có cơ nguy trở nên nguy hiểm hơn nữa vì những cuộc nghiên cứu mới đây về tâm lý của những người mang súng trên người cho thấy là chỉ cần được “lận” trong người một “con chó lửa” cũng khiến người ta có thể có cái nhìn không đúng với thực tế đang diễn ra trong xã hội. Đối với phe bênh vực chính sách kiểm soát nghiêm nhặt súng ống, những cuộc nghiên cứu này cho thấy là tinh thần cực đoan và hoang tưởng thường thấy ngày nay khi bàn đến chuyện chính trị, cộng với việc mua rất dễ dàng và hợp pháp một khẩu súng lục tại siêu thị Walmart, cuối cùng sẽ dẫn đến hậu quả là người dân Mỹ sẽ phải sống trong một xã hội ngày càng nguy hiểm và đáng sợ hơn.

    Thí dụ mới nhất cho tình trạng căng thẳng của một xã hội nguy hiểm và đáng sợ là vụ nổ súng tại thị trấn Roanoke ở tiểu bang Virginia khiến cho 2 phóng viên trẻ của một đài truyền hình địa phương bị tử nạn trong lúc đang thực hiện công việc thường ngày của họ. Đó là cô phóng viên Alison Parker và chuyên viên thu hình Adam Ward, đã bị một kẻ nổ súng giết chết trong lúc họ đang làm một phóng sự được trực tiếp truyền hình trên màn ảnh. Điều đau đớn và kinh hoàng cho gia đình các nạn nhân là bỗng dưng họ bị mất đi những người thân yêu, bị chết oan uổng và tức tưởi, đồng thời họ cũng phải chứng kiến một cách bất đắc dĩ và oái oăm những giờ phút kinh dị đó trong trạng thái bất lực. Lý do là vì cả 2 anh chị phóng viên trẻ này đều có người yêu của họ cùng làm trong nghề tại đài truyền hình này, và do đó những người thân yêu của họ cũng đã phải trải qua những giây phút nghẹt thở khi nhìn thấy hình ảnh của vụ thảm sát xảy ra trước mắt vì đoạn phim phóng sự được trực tiếp truyền hình.

    Thủ phạm gây ra vụ thảm sát này là anh Vester Flanagan, tự nhận mình là “một nồi thuốc súng” vì bất mãn sau khi anh ta bị đài truyền hình này cho nghỉ việc vào năm 2013. Điều đáng nói là anh Flanagan đã mua một cách hợp pháp 2 khẩu súng lục Glock, tức là đã trải qua thủ tục điều tra và kiểm soát về lý lịch rất đầy đủ và kỹ lưỡng. Tại tiểu bang Virginia, Thống đốc Terry McAuliffe là người theo đảng Dân Chủ, ủng hộ chính sách kiểm soát nghiêm ngặt súng ống nhưng quốc hội tiểu bang do phe Cộng Hoà nắm quyền lại không đồng thuận nên những điều luật kiểm soát súng ống không được thông qua. Trong một cuộc họp báo sau khi xảy ra vụ án mạng, ông McAuliffe đã than phiền rằng “tại nước Mỹ ngày nay đã có quá nhiều súng ống, và rõ ràng là có nhiều súng ống nằm trong tay những thành phần không tốt.”

    Tuy Thống đốc McAuliffe phân tích về sự ích lợi của một chính sách kiểm soát lý lịch và tiểu sử của những kẻ muốn mua súng (background check) cần được áp dụng trên toàn quốc, nhưng phe Cộng Hoà và Hiệp hội NRA, tổ chức của những người sở hữu súng có thực lực rất mạnh, đã cương quyết chống lại nỗ lực này. Tuy vậy, ông McAuliffe cũng thú nhận rằng ngay cả chính sách kiểm soát lý lịch này cũng chẳng có gì là bảo đảm và an toàn, bởi vì chính hung thủ Vester Flanagan này cũng đã được kiểm tra lý lịch đầy đủ nên mới được mua súng.

    Một vụ thảm sát kinh hoàng khác mới xảy ra cách nay hơn 2 tháng cũng do một hung thủ được sở hữu súng ống một cách hợp pháp. Đó là vụ nổ súng tại một nhà thờ Tin lành Methodist Episcopal của dân Mỹ đen tại thành phố Charleston, tiểu bang South Carolina khiến cho 9 người bị thiệt mạng trong lúc đang tham dự trong một buổi đọc Kinh thánh. Trong số những nạn nhân có cả vị mục sư quản nhiệm là ông Clementa C. Pinckney, đồng thời cũng là nghị sĩ tiểu bang tại South Carolina.

    Hung thủ là cậu thanh niên Dylann Roof, 21 tuổi, sau đó thú nhận rằng anh ta nổ súng giết người vì muốn tạo nên một cuộc chiến giữa 2 sắc tộc Mỹ trắng và Mỹ đen. Vụ nổ súng này đã gây ra những làn sóng công phẫn khiến cho những chính trị gia của đảng Cộng Hoà tại South Carolina cũng phải đồng loạt lên án hung thủ, và sau đó quyết định loại bỏ lá cờ Confederate từ thời nội chiến Nam-Bắc Hoa Kỳ, về sau này được dùng làm biểu tượng thân yêu của những thành phần bảo thủ cực hữu và kỳ thị sắc tộc tại nhiều vùng ở miền Nam nước Mỹ.

    Các chính trị gia của cả hai phía bảo thủ cũng như cấp tiến đều đồng loạt lên án hành động nổ súng dã man này. Trong một cuộc vận động tranh cử tại Des Moines, Iowa, bà Hillary Clinton thuộc đảng Dân Chủ đưa ra lời hứa là nếu đắc cử tổng thống thì bà sẽ đề ra những chính sách kiểm soát nghiêm nhặt về súng ống với lời phát biểu: “Chúng ta thấy có nhiều thảm trạng như vậy trong 2 năm qua, và nó xảy ra gần như thường xuyên. Chúng ta thấy là có nhiều bằng chứng là nếu như người ta không dễ dàng sở hữu súng ống như vậy, nếu như có một chính sách kiểm soát lý lịch phổ quát trên toàn quốc, thì có lẽ chúng ta cũng ngăn chặn được những thảm hoạ như vậy.

    Phần lớn những ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hoà thì đổ lỗi rằng thủ phạm trong những vụ thảm sát này không phải là chuyện súng ống bừa bãi hay dễ dãi, mà chính là những hung thủ đang có vấn đề tâm thần nên đã tìm cách đổ hết mọi bực dọc của mình lên đầu những nạn nhân vô tội trong xã hội. Đó là lập luận của những người như ông Donald Trump, hoặc là ông Scott Walker, thống đốc của Wisconsin, khi lên tiếng kêu gọi cần có những chính sách chăm sóc bệnh tâm thần khá hơn. Điều trái khoáy và mỉa mai là ông Walker, cũng như hầu hết các chính trị gia bảo thủ khác bên đảng Cộng Hoà, đều luôn tìm cách chống phá đạo luật bảo hiểm y tế Affordable Care Act (ACA), thường quen gọi là Obamacare, từ nhiều năm qua với đủ lý do nguỵ biện khác nhau, dù rằng đạo luật này đã đem lại lợi ích to lớn cho hàng chục triệu người dân có được bảo hiểm y tế, trong đó dĩ nhiên có việc cải thiện các chính sách bảo hiểm sức khoẻ để bao gồm luôn việc chăm sóc và chữa trị các bệnh tâm thần.

    Đã đành là xã hội nào cũng có thể có những phần tử bất hảo, hoặc những kẻ điên khùng có thể giở chứng vào bất cứ thời điểm nào để gây ra những tai hoạ chết chóc cho nhiều người dân vô tội bỗng dưng trở thành nạn nhân của chúng. Nhưng có lẽ khó ai phủ nhận sự kiện là khi những thứ vũ khí được có sẵn trong tay thì những kẻ xấu sẽ càng dễ dàng hơn để tiến hành những âm mưu hay hành động điên rồ của chúng. Thí dụ dễ hiểu điển hình nhất là chuyện cãi cọ trong gia đình hay giữa bạn bè lời qua tiếng lại trong những bữa tiệc nhậu quá chén v.v… Trong những tình huống đó, những hành động bạo lực có thể xảy ra khi nhiều người không cầm giữ được sự bình tĩnh và lý trí sáng suốt. Nó có thể được diễn ra dưới hình thức những cú bạt tai, đánh đấm hoặc chén bay, đĩa bể. Và nếu như có sẵn dao búa ở gần, những kẻ nóng tính có thể nổi điên để đâm chém đối phương trong cuộc đấu khẩu này, dù người đó có là thân thích ruột thịt hay vợ chồng. Và sau cùng, nếu như có sẵn súng ống, nhiều người sẽ dễ có phản ứng là thích rút súng ra để giải quyết bực tức hay xung đột một cách mau chóng.

    Do đó, cường độ khốc liệt của những vụ tranh cãi hay xung đột này cũng gia tăng tuỳ theo sự hiện hữu của các loại vũ khí. Để rồi sau khi mọi sự được lắng đọng, gần như những người trong cuộc đều ý thức được sự nông cạn của mình và bầy tỏ sự hối tiếc. Thế nhưng điều đáng tiếc là trong những trường hợp súng ống được sử dụng để giải quyết nội vụ, thông thường những điều hối tiếc này đều trở thành quá trễ và không còn có thể sửa chữa lại được nữa, khi mà nạn nhân đã bị tử nạn một cách quá mau chóng trước khi kẻ nổ súng ý thức được việc làm nông nổi và sai lầm của mình.

    Những kẻ bênh vực cho lập trường nên cho sở hữu súng ống một cách dễ dãi thường đưa ra lập luận rằng súng ống chỉ là những đồ vật vô tri vô giác nên tự nó không có gì là nguy hiểm cho xã hội. Họ cho rằng điều đáng sợ chính là con người đang sở hữu những loại súng ống đó. Nếu biết cách sử dụng súng ống một cách đứng đắn và nghiêm túc, người ta có thể đạt được nhiều kết quả tốt trong việc bảo vệ an ninh và tài sản của mình cũng như cho xã hội.

    Thậm chí trong nhiều trường hợp các vụ thảm sát to lớn nổ ra khi hung thủ bắn chết hàng chục nạn nhân vô tội (như vụ nổ súng tại rạp xi-nê ở Colorado vào năm 2012 khiến cho 12 người chết và hơn 70 người bị thương, hoặc vụ nổ súng ở trường đại học Virginia Tech vào năm 2007 bởi một anh sinh viên gốc Đại Hàn khiến 33 người chết và 17 người khác bị thương) những người ủng hộ quyền sở hữu súng ống một cách dễ dãi lại còn biện minh rằng giá như để cho mọi người đều có súng trong người hết, thì có lẽ con số nạn nhân sẽ ít hơn, vì có thể nhiều người sẽ tìm cách móc súng ra để tự vệ hay chống trả, khiến cho hung thủ không thể nào tiếp tục nã đạn vào nhiều nạn nhân khác. Lập luận này mới thoạt nghe qua thì rất có lý, nhưng nếu như nó được áp dụng thì sẽ dẫn đến một hậu quả hỗn loạn khôn lường khi mà mọi người đều tự động cho mình cái quyền được sở hữu súng ống để bảo vệ an ninh, và xã hội sẽ rơi vào tình trạng cực kỳ bất an hơn nữa khi mọi người không còn tin tưởng vào những định chế an ninh lâu đời như các lực lượng cảnh sát và cơ cấu chính quyền.

    Câu hỏi đặt ra là liệu việc sở hữu một khẩu súng trong nhà có thể khiến cho tình trạng trở nên nguy hiểm hơn hay không? Theo nhận định của nhà báo Alexander LaCasse của tờ Christian Science Monitor, hầu hết các chuyên gia nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sở hữu súng ống đều trả lời là có. Đó cũng là kết luận của ông David Hemenway, giáo sư về y tế công cộng tại trường Đại học Harvard, khi ông bắt đầu gửi ra những cuộc thăm dò hàng tháng đến nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các đề tài liên quan đến y tế công cộng, cũng như tội phạm trong xã hội. Đa số rất lớn những chuyên gia được hỏi đều kết luận rằng việc người dân có thủ sẵn súng ống trong nhà sẽ gia tăng rủi ro về tự tử, cũng như biến phụ nữ dễ trở thành nạn nhân của những vụ bạo hành chết người, và cũng khiến cho nhà cửa trở thành nơi chốn nguy hiểm hơn.

    Trong một bài viết được đăng trên trang Xã luận và Góp ý (Op-Ed) của tờ Los Angeles Times với tựa đề là “Có Sự Đồng Thuận về Khoa Học về Súng Ống”, giáo sư Hemenway đã viết: “Sự đồng thuận về khoa học không phải lúc nào cũng hoàn toàn đúng, nhưng nó là kim chỉ nam tốt nhất để giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn thế giới này. Các nhà báo đừng nên tiếp tục viết rằng các nhà khoa học, cũng như các chính trị gia, đều chia ra hai phe ngang ngửa trong đề tài tranh luận về súng ống. Thật ra chúng tôi không nhận định như vậy. Vì với 150 nhà khoa học được thăm dò, có đến 72% tin rằng có 1 khẩu súng ở trong nhà sẽ gia tăng xác suất 1 phụ nữ sống ở đó sẽ bị sát hại, trong khi chỉ có 11% không đồng ý như vậy.”

    Bài viết của giáo sư Hemenway tiếp tục đưa ra những con số kế tiếp để minh chứng cho kết luận của mình: 71% nhà khoa học tin rằng các chính sách kiểm soát nghiêm ngặt súng ống sẽ giảm thiểu tỉ lệ tội phạm giết người so với 12% tin ngược lại. 62% người được hỏi tin rằng những đạo luật dễ dãi chuyện sở hữu súng ống chẳng làm giảm tỉ lệ tội phạm so với 9% tin rằng điều đó đã xảy ra. Có đến 73% tin rằng súng ống được sử dụng để phạm tội hơn là để tự vệ. Và sau cùng, có đến 64% tin rằng việc có súng ở trong nhà càng khiến cho tình hình có thể nguy hiểm hơn trong khi chỉ có 5% tin rằng có súng ở trong nhà sẽ khiến cho nó trở thành nơi chốn an toàn hơn.

    Những con số chi tiết này dường như trái ngược với nhận định của người dân Mỹ nói chung. Một cuộc thăm dò dân ý do cơ quan Gallup thực hiện vào tháng 11/2014 cho thấy là có đến 63% dân chúng tại Hoa Kỳ tin tưởng rằng việc có được một khẩu súng ở trong nhà sẽ khiến cho nó trở thành nơi chốn an toàn hơn, một tỉ lệ dường như đã tăng gấp đôi kể từ năm 2000. Cuộc thăm dò này cũng cho thấy là có khoảng 40% các gia đình ở Mỹ đều có 1 khẩu súng ở trong nhà.

    Điều trái khoáy là càng ngày càng có nhiều vụ nổ súng bừa bãi giết chết nhiều nạn nhân vô tội vì hung thủ là người được sở hữu súng ống một cách tương đối dễ dãi. Ấy vậy nhưng phản ứng của nhiều người dân Mỹ dường như lại không nghiêng theo chiều hướng ủng hộ một chính sách kiểm soát súng nghiêm ngặt, có lẽ cũng do ảnh hưởng của những nhà vận động hành lang cho kỹ nghệ súng ống.

    Những người này đưa ra lập luận rằng cần phải để cho nhiều công dân gương mẫu, tôn trọng luật pháp, được quyền mang súng ống trên người khi đi đến những nơi công cộng như trường đại học, siêu thị hoặc ngay cả những nơi thờ phượng. Đó là lập luận của ông Mike Huckabe, ứng cử viên tổng thống bên đảng Cộng Hoà và cũng là cựu thống đốc tiểu bang Arkansas. Ông nói rằng nếu như có nhiều người đi lễ mang theo trên người súng ống, thì có lẽ con số nạn nhân bị thiệt mạng tại nhà thờ ở Charleston sẽ ít hơn.

    Lập luận cần có súng mang sẵn trên người để có thể tự vệ khi cần thiết là một phản ứng tự nhiên và dễ hiểu, tuy rằng nó hoàn toàn sai lầm. Một cuộc nghiên cứu của cơ quan cảnh sát liên bang FBI tìm hiểu trong tổng số 160 vụ nổ súng giết hại nhiều người tại những nơi công cộng trên nước Mỹ từ năm 2000 đến 2013 cho thấy là đa số những vụ nổ súng này chỉ chấm dứt khi hung thủ bỏ chạy hoặc tự sát. Chỉ có trong 21 vụ thì hung thủ bị chặn bắt bởi những người khác không có mang súng ống. Nhưng chỉ có 1 trường hợp duy nhất thì vụ nổ súng được kết thúc khi có một người dân có mang súng nhảy ra can thiệp.

    Một cuộc nghiên cứu khác của tổ chức có tên là The Violence Policy Centre đưa ra kết luận rằng những người dân Mỹ được quyền mang súng ống dấu trong người thường là dễ gây ra những vụ thảm sát to lớn (có đến 29 vụ kể từ năm 2007) hơn là có khả năng ngăn ngừa những vụ nổ súng như vậy. Ấy là chưa kể, phần đông những người dân thường tuy có mang súng ống trong người thường chẳng có làm giảm bớt những vụ nổ súng, trong nhiều trường hợp mỗi khi họ nổ súng, họ thường là nhắm bắn rất trật và gây hoang mang cho nhân viên công lực khi chạy đến hiện trường, vì không biết đó là hung thủ hay là người đang ngăn cản hung thủ.

    Sự mâu thuẫn này dẫn đến một câu hỏi rộng lớn hơn: đó là việc sở hữu súng ống có giúp người dân được an toàn hơn hay không. Càng ngày càng có nhiều người dân Mỹ tin tưởng vào lập luận này, nhưng đó cũng là một niềm tin sai lầm. Chuyên gia Daniel Webster của viện nghiên cứu có tên là Johns Hopskins Centre for Gun and Policy Research cho rằng việc sở hữu súng ống ở trong nhà thường là đi kèm với tỉ lệ rủi ro về án mạng tăng cao đến gấp 2 hay gấp 3 lần. Và nếu như kết luận này đúng với tình trạng an ninh trong nhà thì nó cũng đúng với tình trạng an ninh của 1 tiểu bang hay 1 quốc gia: đó là con số súng ống càng tăng trong xã hội thì sẽ càng có nhiều hơn những vụ án mạng hay những vụ tai nạn thương tâm hoặc tự tử do súng ống gây ra.

    Cuộc tranh luận về đề tài súng ống, hay đúng hơn là lợi hay hại của việc sở hữu súng ống một cách tương đối quá dễ dãi đến gần như bừa bãi rất phổ biến tại Hoa Kỳ, có lẽ là một câu chuyện khó có sự đồng thuận, nhất là nhiều người dễ dàng vin vào sự kiện Tu Chính Án số 2 của Hiến pháp Hoa Kỳ đã bảo vệ quyền sở hữu đó. Tuy nhiên, điều đó không đủ sức thuyết phục được mọi người tin tưởng rằng cuộc sống ở Mỹ ngày nay có phần yên tĩnh và an toàn hơn so với cuộc sống tại nhiều quốc gia thanh bình và giầu có khác. Có lẽ chúng ta sẽ có dịp trở lại đề tài này để bàn luận thêm nhiều chi tiết khác.

    Mai Loan
    1 tháng 9, 2015

 

Marc Samuels

Yen Green tea